Tin giáo dục

Tài nguyên dạy học

Thống kê

  • lượt truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Đang trực tuyến

    2 khách và 1 thành viên
  • Dương Thị Ánh Hồng
  • Đang online

    • (Hoàng Ngọc Vĩnh)
    • (Hoàng Trần Thy Ngọc)
    • (Hoàng Trần Như Ngọc)
    • (Hoàng Chiến Công (Admin))

    Điều tra ý kiến

    Bạn thấy website của tôi như thế nào?
    Bình thường
    Đẹp
    Chưa đẹp
    Ý kiến khác

    Ảnh mới nhất

    TangChat.flv HCMDBP24M.flv HSTS.flv HCMDBP43M.flv HD14.flv Eovinhxanh_clip0.flv Eovinhxanh_clip1.flv Eovinhxanh_clip2.flv Eovinhxanh_clip3.flv Eovinhxanh_clip4.flv Eovinhxanh_clip5.flv DoanHoi14.flv DH14_2.flv DH14.flv Clip20M.flv HuyenThoaiMe.flv Clip128M.flv BTHCMDL.flv Bo21423M.flv HCMDBP43M.flv

    Sắp xếp dữ liệu

    Chào mừng quý vị đến với Thư viện Triết học trực tuyến của Hoàng Ngọc Vĩnh.

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tư liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay ô bên phải.

    Đáp án môn thi LSTHÂĐ của lớp Triết K34

    Nguồn:
    Người gửi: Hoàng Ngọc Vĩnh (trang riêng)
    Ngày gửi: 14h:42' 20-02-2011
    Dung lượng: 11.9 KB
    Số lượt tải: 43
    Số lượt thích: 0 người
    ĐÁP ÁN ĐỀ THI MÔN LỊCH SỬ TRIẾT HỌC ẤN ĐỘ CỔ TRUNG ĐẠI
    LỚP TRIẾT K34, HỌC KỲ 1 NĂM HỌC 2010-2011
    ĐỀ 1
    Câu hỏi: Bằng những nội dung cơ bản của triết học Phật giáo hãy làm rõ nhận định: “Giải thoát luận là khuynh hướng nổi trội của triết học Ấn Độ cổ trung đại”.
    ĐÁP ÁN:
    - Hầu hết các trường phái triết học Ấn Độ đều bàn về giải thoát 1 điểm.
    - Những nội dung cơ bản của tư tưởng giải thoát 3 điểm.
    - Những nội dung cơ bản của nhân sinh quan Phật giáo 6 điểm.
    CỤ THỂ:
    - Trừ Lôkayata tất cả các trường phái còn lại của triết học Ấn Độ cổ trung đại đều có mục đích là giải thoát. Trường phái nào trung thành tuyệt đối với giải thoát luận của Upanishad thì được xếp vào hệ thống chính thống. Trường phái nào không trung thành tuyệt đối với giải thoát luận của Upannisad thì được xếp vào hệ thống không chính thống 1 điểm.
    - Những nội dung cơ bản của giải thoát luận trong triết học Ấn Độ cổ trung đại là:
    Giải Thoát (Moksha): Giải là lìa khỏi sự trói buộc, được tự tại, mở những dây trói buộc của nghiệp lầm (hoặc nghiệp).
    Thoát là ra ngoài quả khổ tam giới (dục-sắc-vô sắc). Giải thoát đối với hệ phược.
    Giải thoát là Niết bàn – Thể niết bàn – vì lìa tất cả mọi trói buộc. Chẳng hạn giải thoát khỏi ngũ uẩn.
    Giải thoát cũng là thiền định, vì nhờ thiền định mà thoát ra khỏi mọi trói buộc và trở nện tự tại.
    Giải thoát là một phần của ngũ phần pháp thân.
    Trong đạo Phật còn các phạm trù giải thoát hạnh, giải thoát giới, giải thoát phục, giải thoát y...
    Giải thoát có hai thứ: 1. Tính tịnh giải thoát: bản tính chúng sinh vốn tịnh không hệ phược, ô nhiễm. 2. Chướng tận giải thoát: bản tính vốn tịnh, nhưng do phiền não, mê lầm mà không thể hiện bản tính ấy, vì thế phải đoạn tuyệt hoặc chướng ấy để được giải thoát, tự tại.
    Giải thoát có hai cảnh về sự và về lý: 1. Về sự: là giải thoát khỏi ngũ uẩn, tai nạn đang trói buộc thân – Giải thoát khỏi 3 cõi địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh; Giải thoát khỏi pháp luật;.. 2. Về lý: là giải thoái khỏi mọi mối phiền não, luyến ái từng ràng buộc tâm – Giải thoát khỏi luân hồi để thành quả La hán, Duyên giác, Bồ tát, Phật.
    Về lý lại có 2 lẽ giải thoát: a) Tâm thiện giải thoát: Tâm, Ý giải thoát thì lìa khỏi các trói buộc Tham, Sân, Si. b) Huệ thiện giải thoát: Trí, Huệ giải thoát thì không bị chướng ngại, bởi pháp nào cũng biết rõ và thông tỏ cả.
    Hai lẽ giải thoát này là hai lẽ giải thoát của Bồ tát.
    Trong lịch sử Phật giáo, Giải thoát Bồ tát là danh hiệu của Bồ tát Ma-ha-tát.
    Theo quan niệm của Phật giáo con người vướng nghiệp phải vận động theo nhân-quả, nên luận hồi trong bể khổ. Muốn thoát khổ phải tu hành thoát khỏi luân hồi tới niết bàn.
    Toàn bộ nội dung trên 3 điểm
    - Những nội dung cơ bản của nhân sinh quan Phật giáo 6 điểm:
    Quan niệm về con người 2 điểm: Phật giáo cho rằng con người không do thượng đế sinh ra, cũng không do một đấng thiêng liêng nào tạo ra cả, mà con người là một pháp đặc biệt của vạn pháp. Con người bao gồm phần sinh lý, tâm lý, và là sự kết hợp của ngũ uẩn:
    Phần sinh lý gồm “sắc” là thần sắc, hình tướng giới hạn trong không gian bằng xương, thịt, da, tạo bởi bốn yếu tố (Tứ đại) là: thủy, hỏa, địa, phong. Phần tâm lý hay tinh thần, ý thức gồm thụ, tưởng, hành, thức, được biểu thị bằng bảy lĩnh vực tình cảm (thất tình) là: Ái, ố, nộ, hỷ, lạc, ai, dục. Phần tâm lý bao giờ cũng nhờ, dựa vào phần sinh lý (không có tinh thần, ý thức ngoài cơ thể vật chất). Con người cũng như vạn pháp khác của vũ trụ phải tuân thủ: sinh, trụ, dị, diệt và thực chất là giả hợp của ngũ uẩn, do vậy con người cũng chỉ là giả - “Vô ngã”.
    Con người khi chết không hết cũng chẳng còn (chấp đoạn). Phật giáo giải thích cái chết của con người sau chết bằng thuyết “Nghiệp báo” (karma) và luân hồi (Samsara).
    Nghiệp theo Phật giáo phải được hiểu là nghiệp theo kiểu truyền thống, nhưng có đôi điểm khác biệt như: Bí truyền và hành động như một định
     
    Gửi ý kiến

    ↓ CHÚ Ý: Bài giảng này được nén lại dưới dạng ZIP và có thể chứa nhiều file. Hệ thống chỉ hiển thị 1 file trong số đó, đề nghị các thầy cô KIỂM TRA KỸ TRƯỚC KHI NHẬN XÉT  ↓

    print