Tin giáo dục

Tài nguyên dạy học

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Đang trực tuyến

    0 khách và 0 thành viên

    Đang online

    • (Hoàng Ngọc Vĩnh)
    • (Hoàng Trần Thy Ngọc)
    • (Hoàng Trần Như Ngọc)
    • (Hoàng Chiến Công (Admin))

    Điều tra ý kiến

    Bạn thấy website của tôi như thế nào?
    Bình thường
    Đẹp
    Chưa đẹp
    Ý kiến khác

    Ảnh mới nhất

    PhVaDong.flv PVDong.flv ThuTuongPhamVanDong.flv 10ngayRCTGP21.flv 10ngayRCTGP22.flv 10ngayRCTGP23.flv 10ngayRCTGP24.flv 10ngayRCTGP41.flv 10ngayRCTGP42.flv 10ngayRCTGP43.flv 10ngayRCTGP11.flv 10ngayRCTGP12.flv 10ngayRCTGP13.flv 10ngayRCTGP14.flv 100namCMT10.flv 100namCMT101.flv 100namCMT102.flv NgaVietCMT10.flv MinhThamNoi.flv KetNapDangK37.flv

    Sắp xếp dữ liệu

    Chào mừng quý vị đến với Thư viện Triết học trực tuyến của Hoàng Ngọc Vĩnh.

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tư liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay ô bên phải.

    Sinh hoạt chính trị đầu năm-ĐHKH Huế-Hè 2017

    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    Nguồn: Hoàng Ngọc Vĩnh, 15/15 Văn Cao, tp Huế
    Người gửi: Hoàng Ngọc Vĩnh (trang riêng)
    Ngày gửi: 14h:39' 01-09-2017
    Dung lượng: 195.9 KB
    Số lượt tải: 40
    Số lượt thích: 0 người
    TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC HUẾ
    GVC.THS HOÀNG NGỌC VĨNH









    TIẾP TỤC ĐẨY MẠNH “CUỘC VẬN ĐỘNG HỌC TẬP
    VÀ LÀM THEO TƯ TƯỞNG, ĐẠO ĐỨC, PHONG CÁCH HỒ CHÍ MINH”
    HUẾ, 8/2017
    TIẾP TỤC ĐẨY MẠNH “CUỘC VẬN ĐỘNG HỌC TẬP
    VÀ LÀM THEO TƯ TƯỞNG, ĐẠO ĐỨC, PHONG CÁCH HỒ CHÍ MINH”
    1. Nhận thức về tư tưởng tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh
    Suốt cuộc đời và sự nghiệp cách mạng của mình, vấn đề đạo đức cách mạng luôn được Chủ tịch Hồ Chí Minh quan tâm ở vị trí hàng đầu. Đạo đức cách mạng mà Chủ tịch Hồ Chí Minh quan tâm vun đắp xây dựng và nêu gương cho dân tộc Việt Nam là đạo đức suốt đời tận tụy cung phụng vì hạnh phúc nhân dân.
    Người đề ra những chuẩn mực đạo đức cụ thể phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ, trách nhiệm của từng đối tượng người Việt Nam: Với thiếu niên nhi đồng, là năm điều Bác dạy(1). Với thanh niên, là 6 lời khuyên(2). Với lực lượng vũ trang là 12 điều kỷ luật(3). Với đảng viên, Người quy định 4 tư cách(4). Với cán bộ công chức nhà nước, Người quy định “6 điều không nên và 6 điều nên làm”(5). Với giáo viên, Bác dạy phải là tấm gương 4 mặt. Với đội ngũ y, bác sỹ, Bác dạy “lương y như từ mẫu”. v.v.
    Những chuẩn mực đạo đức chung, cơ bản và phổ cập đối với mọi người do Người đề ra có thể khái quát lại là: 1. Trung với nước, hiếu với dân. 2. Có lòng yêu thương con người. 3. Cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư. 4. Có tinh thần quốc tế trong sáng, thuỷ chung.
    Trong tính cụ thể, chi tiết về những chuẩn mực đạo đức cách mạng, Người quy định đúng cho từng đối tượng người, ngành nghề, giới tính, lứa tuổi, và những chuẩn mực chung có ý nghĩa cơ bản mang tính phổ cập của đạo đức con người mới xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam được Hồ Chí Minh quy định đều thể hiện cả trên ba bình diện: 1. Với tự mình phải rất nghiêm khắc. 2. Với người phải thật sự khoan dung, độ lượng. 3. Với công việc phải tận tâm, tận lực.
    Trước Cách mạng Tháng Tám, chuẩn mực đạo đức được Người đặt lên hàng đầu là vì độc lập của Tổ Quốc. Sau Cách mạng Tháng Tám, mối quan tâm hàng đầu về chuẩn mực đạo đức của Người là liêm chính chí công vô tư, tận tụy, cung phụng chăm lo lợi ích của nhân dân.
    Về đạo đức cách mạng của Đảng chân chính, Người viết: “Lòng mình chỉ biết vì Đảng, vì Tổ quốc, vì đồng bào thì mình sẽ tiến đến chỗ chí công vô tư. Mình đã chí công vô tư thì khuyết điểm sẽ càng ngày càng ít, mà những đức tính tốt như sau (nhân, nghĩa, trí, dũng, liêm), ngày càng thêm”(7). Người nhắc nhở, đảng viên phải suốt đời tranh đấu cho độc lập của dân tộc, phải đặt lợi ích của cách mạng lên trên hết, phải luôn là kiểu mẫu cho quần chúng trong mọi công việc. Phải luôn khắc phục khuyết điểm, xây dựng đạo đức cách mạng là để “Dân chúng đồng lòng, việc gì cũng làm được. Dân chúng không ủng hộ, việc gì làm cũng không nên”(8).
    Người chỉ ra, “thắng lợi của chủ nghĩa xã hội không thể tách rời thắng lợi của cuộc đấu tranh trừ bỏ chủ nghĩa cá nhân... Chủ nghĩa cá nhân là một kẻ địch hung ác của chủ nghĩa xã hội. Người cách mạng phải tiêu diệt nó”(9).
    Người cũng chỉ ra, nước ta vẫn còn một số ít cán bộ, đảng viên “Do chủ nghĩa cá nhân mà ngại gian khổ, khó khăn, sa vào tham ô, hủ hóa, lãng phí, xa hoa. Họ tham danh trục lợi, thích địa vị quyền hành. Họ tự cao tự đại, coi thường tập thể, xem khinh quần chúng, độc đoán, chuyên quyền. Họ xa rời quần chúng, xa rời thực tế, mắc bệnh quan liêu mệnh lệnh. Họ không có tinh thần cố gắng vươn lên, không chịu học tập để tiến bộ.
    Cũng do chủ nghĩa cá nhân mà mất đoàn kết, thiếu tính tổ chức, tính kỷ luật, kém tinh thần trách nhiệm, không chấp hành đúng đường lối, chính sách của Đảng và của Nhà nước, làm hại đến lợi ích của cách mạng, của nhân dân”(10).
    Người kêu gọi: “Mỗi cán bộ, đảng viên phải đặt lợi ích của cách mạng, của Đảng, của nhân dân lên trên hết, trước hết. Phải kiên quyết quét sạch chủ nghĩa cá nhân, nâng cao đạo đức cách mạng, bồi dưỡng tư tưởng tập thể, tinh thần đoàn kết, tính tổ chức và tính kỷ luật. Phải đi sâu đi sát thực tế, gần gũi quần chúng, thật sự tôn trọng và phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân. Phải cố gắng học tập, rèn luyện, nâng cao trình độ hiểu biết để làm tốt mọi nhiệm vụ”(11).
    Trong “Di chúc” của mình, Người căn dặn, sau khi cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước hoàn toàn thắng lợi, “trước tiên là chỉnh đốn lại Đảng, làm cho mỗi đảng viên, mỗi đoàn viên, mỗi chi bộ đều ra sức làm tròn nhiệm vụ Đảng giao phó cho mình, toàn tâm, toàn ý phục vụ nhân dân”(12).
    Trong công cuộc đổi mới định hướng xã hội chủ nghĩa, chấp nhận nền kinh tế thị trường hiện nay ở Việt Nam, những thách thức “xa dân”, “chệch hướng xã hội chủ nghĩa”, “tham nhũng”, “thoái hóa biến chất về đạo đức của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên”, “tự chuyển biến”, “tự chuyển hóa” là các nguy cơ mất nước.
    Nghị quyết Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI) nêu rõ: “Bên cạnh kết quả đạt được, công tác xây dựng Đảng vẫn còn không ít hạn chế, yếu kém, thậm chí có những yếu kém khuyết điểm kéo dài qua nhiều nhiệm kỳ chậm được khắc phục, làm giảm sút lòng tin của nhân dân đối với Đảng; nếu không được sửa chữa sẽ là thách thức đối với vai trò lãnh đạo của Đảng và sự tồn vong của chế độ”. Đây là lúc hơn lúc nào hết càng cần phải học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh:“Suốt cuộc đời Bác chăm lo cho hạnh phúc nhân dân. Cả cuộc đời Bác hy sinh cho dân tộc Việt Nam”.
    2. Nhận thức về ý nghĩa, tầm quan trọng của cuộc vận động
    Điểm nổi bật trong đạo đức cách mạng của Bác Hồ, đó là lòng thương yêu, quý trọng đối với nhân dân. Có thể nói, mọi suy nghĩ, mọi hành động của Bác đều vì lợi ích của nhân dân. Người luôn đặt đời sống của mình trong đời sống của nhân dân và suốt đời gắn bó với nhân dân.
    Tầm quan trọng của cuộc vận động Học tập va làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh là một chủ trương lớn, vừa mang tính cấp bách trong bối cảnh tình hình hiện nay, vừa có ý nghĩa lâu dài đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” do Bộ Chính trị tổ chức, thực hiện từ ngày Kỷ niệm 77 năm thành lập Đảng (3/2/2007) cho tới hết nhiệm kỳ Đại hội XI của Đảng:
    Giai đoạn 1 đã tổng kết vào ngày 10/10/2010 với 2 đợt triển khai “Thi kể chuyện tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, “Triển khai học tập, nghiên cứu 4 tác phẩm đạo đức tiêu biểu của Hồ Chí Minh”.
    Giai đoạn 2 bắt đầu từ 10/10/2010 và đã kết thúc vào đầu 2016 khi hết nhiệm kỳ Đại hội XI của Đảng, với 2 đợt “Đẩy mạnh cuộc vận động Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” và “Tiếp tục đẩy mạnh cuộc vận động Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” thông qua hình thức chủ yếu “Thi kể chuyện tấm gương học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” và “Tổng kết 45 năm thi đua thực hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh”.
    Hiện nay, sau Đại hội XII của Đảng (2/2016) là “Tiếp tục đẩy mạnh cuộc vận động học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”, giúp mỗi đảng viên, cán bộ, sinh viên, học sinh và nhân dân tăng thêm thấm nhuần tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về ý thức tu dưỡng và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống và các tệ nạn xã hội; lành mạnh hóa môi trường xã hội, đẩy mạnh dân chủ thực hiện công bằng xã hội; nâng cao lập trường đạo đức cho đội ngũ cán bộ quản lý nhà nước và Đảng viên... Đây chính là những hành động thiết thực nhất để Chào mừng thành công của Đại hội đại biểu toàn quốc Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ XII và Kỷ niệm ngày thành lập Đảng ta 3/2, Kỷ niệm ngày sinh nhật Bác 19/5, Kỷ niệm Quốc khánh 2/9.
    3. Những nội dung cụ thể trong thực hiện “Tiếp tục đẩy mạnh cuộc vận động Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” của trường Đại học Khoa học Huế
    Tấm gương đạo đức của Hồ Chí Minh chói người cả trên ba phương diện: 1. Với mình phải nghiêm khắc: Tự giác tu dưỡng rèn luyện đạo đức suốt đời. Luôn luôn tự giác chấp hành nghiêm túc mọi đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, vì lợi ích của Đảng, của Dân tộc, của Nhân dân, của Tập thể là trước hết, trên hết.
    2. Với người phải thật sự khoan dung, độ lượng: Thật sự yêu thương con người, có niềm tin mãnh liệt vào sự vươn dậy của con người. Đấu tranh tự phê bình và phê bình trên tinh thần xây dựng, thống nhất, đoàn kết, cùng tiến bộ. Đồng thời, luôn cảnh giác, nghiêm khắc và kiên quyết đấu tranh đến cùng đối với những ai lợi dụng lòng nhân ái mưu cầu lợi ích riêng không chính đáng, đi ngược lại lợi ích của dân tộc, của nhân dân, của tập thể.
    3. Với công việc phải tận tâm, tận lực: Luôn phấn đấu học tập để không ngừng nâng cao trình độ lý luận Mác-Lênin và trình độ chuyên môn nghiệp vụ. Có ý chí và nghị lực vượt mọi khó khăn, thách thức hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao. Đã nhận việc là phải hoàn thành công việc được giao đến nơi, đến chốn với hiệu quả, chất lượng cao. Luôn luôn có ý thức và thực hiện cải tiến, đổi mới phương pháp làm việc vì sự tiến bộ và phát triển của nước Việt Nam.
    Các nội dung chủ yếu về tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh là hệ thống quan điểm, tư tưởng Hồ Chí Minh về giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội và con người; về độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; về kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại; về sức mạnh của nhân dân, về khối đại đoàn kết toàn dân tộc; về quyền làm chủ của nhân dân, xây dựng Nhà nước của dân, do dân, vì dân; về quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân; về xây dựng, phát triển kinh tế và văn hoá, không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân; về đạo đức cách mạng; về chăm lo, bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau; về xây dựng Đảng
    Đó là các quan điểm và tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh về: tuyệt đối trung thành, kiên định lý tưởng cách mạng, đặt lợi ích của Đảng, của đất nước, dân tộc lên trên tất cả; hết lòng, hết sức phục vụ Tổ quốc, phụng sự nhân dân, tận trung với nước, tận hiếu với dân; hết lòng yêu thương đồng bào, đồng chí, yêu thương con người; cần, kiệm, liêm chính, chí công vô tư, thật sự là công bộc của nhân dân, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân, cơ hội,
    Đó là phong cách Hồ Chí Minh, phản ánh những giá trị cốt lõi trong tư tưởng, đạo đức của Người và được thể hiện vô cùng sinh động, tự nhiên, độc đáo, có sức thu hút, cảm hoá kỳ diệu trong hoạt động, ứng xử hằng ngày. Đó là: phong cách tư duy độc lập, tự chủ, sáng tạo, luôn gắn chặt lý luận với thực tiễn; phong cách làm việc dân chủ, khoa học, kỹ lưỡng, cụ thể, tới nơi, tới chốn; phong cách ứng xử văn hoá, tinh tế, đầy tính nhân văn, thấm đậm tinh thần yêu dân, trọng dân, vì dân; phong cách nói đi đôi với làm, đi vào lòng người; nói và viết ngắn gọn, dễ hiểu, dễ nhớ, dễ làm; phong cách sống thanh cao, trong sạch, giản dị; phong cách quần chúng, dân chủ, tự mình nêu gương
    - Thực trạng đạo đức lối sống trong sinh viên hiện nay ở Đại học Khoa học Huế
    Trong nền kinh tế thị trường, phần lớn sinh viên, thanh niên trí thức của Đại học Huế và ĐHKH Huế luôn giữ được lối sống tình nghĩa, trong sạch, lành mạnh; cần cù, sáng tạo trong học tập; sống có bản lĩnh, có chí lập thân, lập nghiệp, năng động, nhạy bén, dám đối mặt với những khóa khăn, thách thức, dám chịu trách nhiệm, không ỷ lại, chây lười; luôn gắn bó với nhân dân, đồng hành cùng dân tộc, phấn đấu cho sự nghiệp dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
    Bên cạnh đó, đã có một bộ phận sinh viên trong các trường của Đại học Huế và ĐHKH Huế phai nhạt niềm tin, lý tưởng, mất phương hướng phấn đấu, không có chí lập thân, sống thử, sống dựa dẫm, thiếu trách nhiệm, thờ ơ với gia đình và xã hội, sa vào nghiện ngập, hút xách, thiếu trung thực, gian lận trong thi cử, chạy điểm, chạy thầy, chạy trường, mua bằng cấp...
    Nguyên nhân
    Do đặc thù đào tạo theo hệ thống tín chỉ, mỗi nhóm phải ghép nhiều chuyên ngành nên việc triển khai dạy và học các học phần lý luận Mác-Lênin nói chung và Tư tưởng Hồ Chí Minh nói riêng có chất lượng luôn gặp không ít khó khăn nên chất lượng không cao, nhất là phải dạy và học vào ca 3 (ban đêm); lại thêm cơ sở vật chất của các trường thuộc Đại học Huế còn hạn chế (phòng học, ánh sáng, trang thiết bị dạy học,.. đặc biệt máy chiếu của các trường hầu hết không đủ và đều đã bị hỏng nên có mà như không). Công tác Đoàn, Hội chưa thực sự hấp dẫn đối với thanh niên sinh viên. Môi trường xã hội còn nhiều bất cập.
    Về phía người học, cũng do chưa nhận thức đầy đủ về tầm quan trọng của môn học, nên hầu hết sinh viên chỉ chú trọng môn học chuyên ngành và chỉ học đối phó cần 5 điểm đối với các học phần lý luận Mác-Lênin nói chung và Tư tưởng Hồ Chí Minh nói riêng. Nếu giáo viên không kiên nhẫn, không thấu hiểu đặc thù này thì chất lượng giảng dạy môn học nói chung, chất lượng vận dụng Chỉ thị Trung ương 5 của Bộ Chính trị khóa XII ngày 15/5/2016 về “Tiếp tục đẩy mạnh cuộc vận động Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” đối với sinh viên của Đại học Huế và ĐHKH Huế không cao.
    - “Tiếp tục đẩy mạnh cuộc vận động Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” đối với sinh viên của Đại học Huế:
    Một là, học trung với nước, hiếu với dân, suốt đời đấu tranh cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người của Bác. Phải luôn luôn nâng cao chí khí cách mạng, yêu Tổ Quốc, yêu nhân dân gắn liền với yêu chủ nghĩa xã hội. Xây dựng tinh thần đoàn kết, tình nguyện, tương thân tương ái vì cộng đồng. Chống lối sống bàng quan, vị kỷ cá nhân, thiếu trách nhiệm đối với Tổ Quốc, với nhân dân, với cộng đồng.
    Hai là, học cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, đời riêng trong sáng, nếp sống giản dị và đức khiêm tốn phi thường của Bác. Xây dựng ý thức cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, thật thà, ngay thẳng, khiêm tốn, giản dị, trong sạch, chất phác, tiêu dùng đúng khả năng, thực hiện khẩu hiệu: “cần kiệm là nếp sống đẹp của tuổi trẻ”. Thực hành tự phê bình và phê bình nghiêm chỉnh để giúp nhau cùng tiến bộ mãi. Chống tham ô, lãng phí, xa hoa, tính phô trương trong sinh hoạt, lao động, chống chủ nghĩa cá nhân.
    Ba là, học đức tin tuyệt đối vào sức mạnh của nhân dân, kính trọng nhân dân và hết lòng, hết sức phục vụ nhân dân; luôn nhân ái, vị tha, khoan dung và nhân hậu với con người của Bác. Xây dựng ý thức công dân, ý thức cộng đồng, thói quen ứng xử văn hoá, tôn trọng và bảo vệ lẽ phải, trung thực, sáng tạo, tích cực tham gia xây dựng xã hội dân chủ, công bằng, văn minh. Chống tự do, tuỳ tiện, các biểu hiện coi thường pháp luật cũng như các hành vi thiếu văn hoá trong đời sống, sự giả dối và nạn giáo điều, thiếu sáng tạo. Chống tính ích kỷ, vụ lợi, lối sống tạm thời.
    Bốn là, học tấm gương về ý chí và nghị lực tinh thần to lớn, quyết tâm vượt qua mọi thử thách, gian nguy để đạt được mục đích cuộc sống của Bác. Xây dựng tinh thần hăng hái, kiên quyết, không sợ khó, không sợ khổ, siêng học, siêng làm, quyết hoàn thành bằng được kế hoạch đã đặt ra theo tinh thần “chủ trương một, biện pháp mười, quyết tâm hai mươi”. Chống chây lười, thụ động, ỷ lại, thiếu sáng tạo, vô kỷ luật trong học tập, lao động, ngại khó, ngại khổ, thiếu ý chí tiến thủ; chống vết tích nô lệ trong tư tưởng và hành động. Xây dựng thái độ học tập đúng đắn, nâng cao trình độ chính trị, khoa học kỹ thuật và quân sự, nghiên cứu khoa học thực chất, làm việc gì cũng phải học: Học mọi lúc, mọi nơi, học suốt đời; học ở trường, học sách vở, học lẫn nhau, học nhân dân, học từ thực tiễn cuộc sống, trong việc làm hàng ngày; có thái độ cầu thị. Có ý thức thi đua và thực hành dân chủ trong học tập. Bồi đắp bản lĩnh chính trị, ý chí tự lực, tự cường, tự tin trong hội nhập kinh tế quốc tế.
    Chống tiêu cực, bệnh thành tích trong học tập, bệnh thi đưa hình thức, hư danh, giả dối, sao chép, học thuộc lòng, sự tụt hậu về trình độ, kiến thức khoa học và nhận thức xã hội; những biểu hiện tự ti, mặc cảm trong hội nhập kinh tế quốc tế. Chống kiêu căng, tự mãn trong học tập.
    Năm là, học những nguyên tắc tu dưỡng đạo đức mới của Hồ Chí Minh. Tu dưỡng bền bỉ suốt đời, học đi đôi với lao động, lý luận đi đôi với thực hành, cần cù đi đôi với tiết kiệm. Chống đầu voi đuôi chuột, thiếu thực tế, bệnh anh hùng, tự cao tự đại, chuộng hình thức, ít xem xét kết quả. Nêu gương đạo đức, nói đi đôi với làm. Chống nói không đi đôi với làm, nói nhiều làm ít, nói một đường làm một nẻo.
    Chú thích: 1. Hồ Chí Minh toàn tập, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, Tập 4, trang 421. 2. Sdd, Tập 5, trang 185-186. 3. Sdd, Tập 11, trang 350. 4. Xem Sdd, ,Tập 9, Trang 285. 5. Xem Sdd, Tập 5, Trang 409. 6. Sdd, Tập 4, Tập 5, Trang 233. 7. Sdd, Tập 5, Trang 251-253. 8. Sdd, Tập 5, Trang 293. 9. Sđd,Tập 9, Trang 292. 10. Sđd, Tập 12, Trang 438-439. 11. Sđd,Tập 12, Trang 439. 12. Sđd,Tập 12, Trang 503.
    Nắm vững nội dung cơ bản, những điểm mới trong
    Văn kiện Đại hội XII của Đảng cộng sản Việt Nam
    Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng đã thông qua Nghị quyết và các văn kiện quan trọng, có ý nghĩa về chính trị, tư tưởng và hành động đối với toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta.
    Việc học tập, quán triệt, tuyên truyền, triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XII là một nhiệm vụ trọng tâm từ 2016 đến hết nhiệm kỳ, mà tập trung nhất là những nội dung cơ bản, mới, các giải pháp thực hiện phù hợp với từng đối tượng, lĩnh vực.
    Chỉ thị số 01-CT/TW của Bộ Chính trị về học tập, quán triệt, tuyên truyền, triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng chỉ ra nội dung cần tập trung gồm: Nghị quyết Đại hội XII của Đảng, Báo cáo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về các văn kiện Đại hội XII của Đảng do đồng chí Tổng Bí thư trình bày; Báo cáo chính trị; Báo cáo đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2011 - 2015 và phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2016 - 2020; Báo cáo tổng kết thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI "Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay".
    Nội dung Văn kiện Đại hội XII được xây dựng trên cơ sở tổng kết sâu sắc lý luận và thực tiễn 30 năm đổi mới, có sự kế thừa, bổ sung, phát triển Văn kiện Đại hội XI, của các nghị quyết Hội nghị Trung ương trong nhiệm kỳ và đường lối, quan điểm của Đảng trong các nhiệm kỳ trước đây. Trong đó, những quan điểm cơ bản, tư tưởng chỉ đạo, nội dung cốt lõi, những vấn đề mới, đều hiện diện trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, quốc phòng an ninh, đối ngoại, xây dựng Đảng và hệ thống chính trị, cụ thể như sau:
    I. Về đổi mới mô hình tăng trưởng và hoàn thiện thể chế, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Kế thừa những kết quả đạt được trong nhiệm kỳ Đại hội XI, Văn kiện Đại hội XII có những phát triển mới rất rõ nét, nêu rõ hơn định hướng và giải pháp đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng, xác định đặc trưng cơ bản của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Việt Nam đó là nền kinh tế thị trường hiện đại và hội nhập quốc tế; có sự quản lý của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, nhằm mục tiêu "dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh".
     II. Về lĩnh vực văn hoá – xã hội, Văn kiện đặc biệt chú trọng các nhiệm vụ, giải pháp gắn kết giáo dục, đào tạo và khoa học công nghệ với phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao, phục vụ hiệu quả quá trình đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế, thực hiện 3 đột phá chiến lược. Việc xây dựng, phát triển văn hoá con người Việt Nam, Văn kiện lựa chọn, định hướng 7 nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu, trong đó nhấn mạnh và đặt lên hàng đầu là nhiệm vụ xây dựng con người. Thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, đặc biệt là bảo đảm an sinh xã hội, phúc lợi xã hội là một trong những thành tựu nổi bật trong 30 năm đổi mới, Văn kiện xác định điểm nhấn và cũng là điểm mới, đó là thực hiện hiệu quả hơn trong 5 năm tới vấn đề quản lý phát triển xã hội. 
    III. Về lĩnh vực quốc phòng, an ninh và hoạt động đối ngoại, Báo cáo chính trị Đại hội XII có nêu: “Tăng cường quốc phòng, an ninh, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới”. Cụm từ "trong tình hình mới" là điểm mới được nhấn mạnh. Về công tác đối ngoại và hội nhập quốc tế, Báo cáo chỉ ra vấn đề cốt lõi là phải xác định mục tiêu tối thượng là lợi ích quốc gia – dân tộc. Trong khi nhận rõ hợp tác phát triển là xu thế thì đồng thời không mơ hồ chỉ thấy hợp tác một chiều. Hợp tác đồng thời phải đi đôi với đấu tranh, cạnh tranh để bảo vệ lợi ích chính đáng của quốc gia; đồng thời đấu tranh, cạnh tranh để hợp tác chứ không dẫn tới đối đầu, bất lợi.
    IV. Về chủ trương phát huy sức mạnh đại đoàn kết dân tộc, so với Nghị quyết Đại hội XI, điểm mới trong Văn kiện Đại hội XII có nêu: "Phát huy mạnh mẽ mọi nguồn lực, mọi tiềm năng sáng tạo của nhân dân"; "Tôn trọng những điểm khác biệt không trái với lợi ích chung của quốc gia - dân tộc". Trong định hướng xây dựng các giai tầng trong xã hội, Văn kiện có yêu cầu mới đó là “tiếp tục hoàn thiện chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo, phát huy những giá trị văn hoá, đạo đức tốt đẹp của các tôn giáo”.
    V. Về phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm thực hiện quyền làm chủ của nhân dân, ngoài một số nhiệm vụ, giải pháp mới, Văn kiện cũng bổ sung phương hướng: “Dân chủ phải được thực hiện đầy đủ, nghiêm túc trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội”. “Tập trung xây dựng những văn bản pháp luật liên quan trực tiếp đến quyền làm chủ của nhân dân”. Bổ sung nội dung “giám sát” trong phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, giám sát”.
    VI. Về xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền, Văn kiện nêu lên nhiều nhiệm vụ, giải pháp mới, nổi bật là việc hoàn thiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức của Nhà nước theo quy định của Hiến pháp năm 2013. Thực hiện thí điểm dân trực tiếp bầu một số chức danh ở cơ sở và ở cấp huyện; mở rộng đối tượng thi tuyển chức danh cán bộ quản lý; hoàn thiện tiêu chí đánh giá và cơ chế kiểm tra, giám sát, kiểm soát việc thực thi công vụ; xác định rõ quyền hạn, trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan hành chính. 
    VII. Về xây dựng Đảng trong sạch vững mạnh, Báo cáo chính trị nêu trọng tâm là kiên quyết, kiên trì tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khoá XI. Các cấp uỷ, tổ chức đảng, tập thể lãnh đạo cơ quan, đơn vị và cá nhân cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp từ Trung ương đến cơ sở nghiêm túc, tự giác và có kế hoạch, biện pháp phù hợp để khắc phục, sửa chữa những yếu kém, khuyết điểm. Ngoài ra, ở phần nhiệm vụ, giải pháp, Văn kiện đề ra 10 nội dung, tất cả đều được bổ sung phát triển trên cơ sở kế thừa từ các văn kiện Đại hội khoá trước.
    Những điểm mới nêu trong Văn kiện Đại hội XII phản ánh bước tiến về tư duy lý luận của Đảng và sẽ trở thành những định hướng chính trị quan trọng của mục tiêu xây dựng, phát triển đất nước trong 5 năm tới. Việc làm rõ những vấn đề mới trong Văn kiện Đại hội XII sẽ giúp cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ chủ chốt các cấp trong tỉnh nắm vững một bước nội dung Văn kiện, chuẩn bị cho đợt sinh hoạt chính trị rộng lớn, từ đó góp phần thực hiện đúng đắn, sáng tạo Nghị quyết Đại hội XII của Đảng, phù hợp với tình hình và điều kiện thực tế của tỉnh ta, sớm đưa Nghị quyết Đại hội XII của Đảng vào cuộc sống.
    QUAN ĐIỂM CHỈ ĐẠO ĐỊNH HƯỚNG ĐỔI MỚI CĂN BẢN, TOÀN DIỆN GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO trong Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 4/11/2013 Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo
    1- Giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước và của toàn dân. Đầu tư cho giáo dục là đầu tư phát triển, được ưu tiên đi trước trong các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội.
    2- Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo là đổi mới những vấn đề lớn, cốt lõi, cấp thiết, từ quan điểm, tư tưởng chỉ đạo đến mục tiêu, nội dung, phương pháp, cơ chế, chính sách, điều kiện bảo đảm thực hiện; đổi mới từ sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước đến hoạt động quản trị của các cơ sở giáo dục - đào tạo và việc tham gia của gia đình, cộng đồng, xã hội và bản thân người học; đổi mới ở tất cả các bậc học, ngành học. Trong quá trình đổi mới, cần kế thừa, phát huy những thành tựu, phát triển những nhân tố mới, tiếp thu có chọn lọc những kinh nghiệm của thế giới; kiên quyết chấn chỉnh những nhận thức, việc làm lệch lạc. Đổi mới phải bảo đảm tính hệ thống, tầm nhìn dài hạn, phù hợp với từng loại đối tượng và cấp học; các giải pháp phải đồng bộ, khả thi, có trọng tâm, trọng điểm, lộ trình, bước đi phù hợp.
    3- Phát triển giáo dục và đào tạo là nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài. Chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học. Học đi đôi với hành; lý luận gắn với thực tiễn; giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội.
    4- Phát triển giáo dục và đào tạo phải gắn với nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ Tổ quốc; với tiến bộ khoa học và công nghệ; phù hợp quy luật khách quan. Chuyển phát triển giáo dục và đào tạo từ chủ yếu theo số lượng sang chú trọng chất lượng và hiệu quả, đồng thời đáp ứng yêu cầu số lượng.
    5- Đổi mới hệ thống giáo dục theo hướng mở, linh hoạt, liên thông giữa các bậc học, trình độ và giữa các phương thức giáo dục, đào tạo. Chuẩn hoá, hiện đại hoá giáo dục và đào tạo.
    6- Chủ động phát huy mặt tích cực, hạn chế mặt tiêu cực của cơ chế thị trường, bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa trong phát triển giáo dục và đào tạo. Phát triển hài hòa, hỗ trợ giữa giáo dục công lập và ngoài công lập, giữa các vùng, miền. Ưu tiên đầu tư phát triển giáo dục và đào tạo đối với các vùng đặc biệt khó khăn, vùng dân tộc thiểu số, biên giới, hải đảo, vùng sâu, vùng xa và các đối tượng chính sách. Thực hiện dân chủ hóa, xã hội hóa giáo dục và đào tạo.
    7- Chủ động, tích cực hội nhập quốc tế để phát triển giáo dục và đào tạo, đồng thời giáo dục và đào tạo phải đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế để phát triển đất nước.
    GVC THS HOÀNG NGỌC VĨNH thực hiện tháng 8/2017
    Bác sống như trời đất của ta,
    Yêu từng ngọn lúa mỗi nhành hoa,
    Tự do cho mỗi đời nô lệ,
    Sữa để em thơ, lụa tặng già.
    Bác ơi tim Bác mênh mông thế!
    Ôm cả non sông mọi kiếp người.
    Bác để tình thương cho chúng con,
    Một đời thanh bạch chẳng vàng son.
    Mong manh áo vải hồn muôn trượng,
    Hơn tượng đồng phơi giữa lối mòn!
    Tố Hữu
    Avatar

    Sinh hoạt chính trị hè 2017-ĐHKH Huế

     
    Gửi ý kiến

    ↓ CHÚ Ý: Bài giảng này được nén lại dưới dạng ZIP và có thể chứa nhiều file. Hệ thống chỉ hiển thị 1 file trong số đó, đề nghị các thầy cô KIỂM TRA KỸ TRƯỚC KHI NHẬN XÉT  ↓