Tin giáo dục

Tài nguyên dạy học

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Đang trực tuyến

    1 khách và 0 thành viên

    Đang online

    • (Hoàng Ngọc Vĩnh)
    • (Hoàng Trần Thy Ngọc)
    • (Hoàng Trần Như Ngọc)
    • (Hoàng Chiến Công (Admin))

    Điều tra ý kiến

    Bạn thấy website của tôi như thế nào?
    Bình thường
    Đẹp
    Chưa đẹp
    Ý kiến khác

    Ảnh mới nhất

    PhVaDong.flv PVDong.flv ThuTuongPhamVanDong.flv 10ngayRCTGP21.flv 10ngayRCTGP22.flv 10ngayRCTGP23.flv 10ngayRCTGP24.flv 10ngayRCTGP41.flv 10ngayRCTGP42.flv 10ngayRCTGP43.flv 10ngayRCTGP11.flv 10ngayRCTGP12.flv 10ngayRCTGP13.flv 10ngayRCTGP14.flv 100namCMT10.flv 100namCMT101.flv 100namCMT102.flv NgaVietCMT10.flv MinhThamNoi.flv KetNapDangK37.flv

    Sắp xếp dữ liệu

    Chào mừng quý vị đến với Thư viện Triết học trực tuyến của Hoàng Ngọc Vĩnh.

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tư liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay ô bên phải.

    Nga và Việt Nam kỷ niệm 100 năm CMT10 Nga

    Nguồn: Hoàng Ngọc Vĩnh sưu tầm qua mạng
    Người gửi: Hoàng Ngọc Vĩnh (trang riêng)
    Ngày gửi: 08h:31' 07-11-2017
    Dung lượng: 47.0 MB
    Số lượt tải: 0
    Mô tả:

    LÊNIN, CÁCH MẠNG THÁNG MƯỜI NGA VỚI SỰ NGHIỆP CÁCH MẠNG CỦA HỒ CHÍ MINH

    GVC ThS Hoàng Ngọc Vĩnh - Trường ĐHKH Huế      

                I. Luận cương của Lênin về vấn đề dân tộc và dân tộc thuộc địa quyết định bước ngoặt cách mạng của Nguyễn Ái Quốc

    Bản “Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và dân tộc thuộc địa” gồm 12 luận cương, trong đó Lênin đã đề cập tới những vấn đề cơ bản sau:

    1. Giai cấp tư sản đã giải quyết một cách trừu tượng và hình thức vấn đề dân tộc và quyền bình đẳng giữa các dân tộc. Thực chất chủ nghĩa dân tộc của giai cấp tư sản là vị kỷ, hẹp hòi, cá lớn nuốt cá bé (Luận cương 1, 9, 10, 11).

    2. Phát triển, hoàn thiện lý luận chủ nghĩa Mác về vấn đề dân tộc. Ở đó các dân tộc đều có quyền bình đẳng và quyền tự quyết về vận mệnh của dân tộc mình trên tinh thần hợp tác và xích lại gần nhau giữa các dân tộc (Luận cương 2, 3, 4, 7, 8, 10, 11, 12).

    Nếu “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” 1848 với các Lời tựa do Ăngghen viết cho các lần tái bản 1892 và 1893 khẳng định: giải phóng dân tộc là điều kiện để đoàn kết quốc tế chống chủ nghĩa tư bản, đó là sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân. Thì “Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và dân tộc thuộc địa” của Lênin đã chỉ ra những nguyên tắc liên quan trực tiếp đến cách mạng Việt Nam và ảnh hưởng sâu sắc đến tư tưởng Hồ Chí Minh về con đường cách mạng Việt Nam. Những nguyên tắc đó là:

    a. Phải phân biệt rõ lợi ích của các giai cấp bị áp bức, bóc lột với lợi ích của giai cấp thống trị; phân biệt rõ quyền lợi của dân tộc bị áp bức với quyền lợi của các lực lượng đi áp bức. Nhờ đó, Người phân tích một cách sâu sắc các giai cấp, tầng lớp xã hội ở Việt Nam, phân tích mâu thuẫn giai cấp và đấu tranh giai cấp ở Việt Nam mà tìm ra phương pháp đúng đại đoàn kết toàn dân tộc. Mẫu số chung của đường lối đại đoàn kết toàn dân tộc ở Hồ Chí Minh là tinh thần yêu nước và ý thức dân tộc. Đây là một nguyên tắc tư duy chính trị đặc sắc của Hồ Chí Minh, có giá trị to lớn đối với mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam.

    b. Gắn kết phong trào công nhân với phong trào giải phóng dân tộc là vấn đề sống còn, là điều kiện tiên quyết trong sự nghiệp đấu tranh chống chủ nghĩa tư bản. Nhận thức được nguyên tắc này, từ 1924, Hồ Chí Minh đã viết: “Lênin là người đầu tiên đã hiểu và đánh giá hết tầm quan trọng lớn lao của việc lôi cuốn nhân dân các nước thuộc địa vào phong trào cách mạng. Lênin là người đầu tiên chỉ rõ rằng, nếu không có sự tham gia của các dân tộc thuộc địa, thì cách mạng xã hội không thể có được”.

    Tuy nhiên, do hạn chế về điều kiện lịch sử, mà Lênin vẫn khẳng định sự thắng lợi của cách mạng giải phóng dân tộc bị lệ thuộc vào sự thắng lợi của cách mạng vô sản ở chính quốc: “Nếu không có chiến thắng đó thì không thể thủ tiêu được ách áp bức dân tộc và tình trạng bất bình đẳng”. Hồ Chí Minh trong điều kiện lịch sử mới đã khẳng định và thực hiện: cách mạng giải phóng dân tộc nếu được tiến hành một cách chủ động, sáng tạo thì có khả năng giành thắng lợi trước cách mạng vô sản ở chính quốc. Người đã viết: “Trong khi thủ tiêu một trong những điều kiện tồn tại của chủ nghĩa tư bản là chủ nghĩa đế quốc, họ có thể giúp đỡ những người anh em mình ở phương Tây trong nhiệm vụ giải phóng hoàn toàn”. “An Nam dân tộc cách mệnh thành công thì tư sản Pháp yếu, tư sản Pháp yếu thì công nông Pháp làm giai cấp cách mệnh cũng dễ”.

    3. Đề cập về những yếu tố dân tộc của các nước thuộc địa, Lênin đặc biệt lưu ý hai vấn đề: Sự nghi kỵ của quần chúng cần lao ở các nước thuộc địa “đối với các dân tộc đi áp bức nói chung, kể cả với giai cấp vô sản của các dân tộc đó”; Tình trạng lạc hậu của nước tiểu sản xuất nông nghiệp mang tính chất gia trưởng làm cho “những thành kiến tiểu tư sản thâm căn cố đế nhất như tinh thần ích kỷ dân tộc, hẹp hòi dân tộc có một sức mạnh đặc biệt và có tính dai dẳng”. Nhờ những gợi ý quan trọng này của Lênin, mà Hồ Chí Minh sau này đã phát triển thêm cách mạng giải phóng dân tộc muốn thắng lợi phải đoàn kết nhân dân lao động của nước thuộc địa với nhân dân lao động của nước chính quốc: “đoàn kết nhân dân các nước thuộc địa trong một mặt trận chung, chống chủ nghĩa đế quốc, xây dựng tình đoàn kết giữa nhân dân các nước thuộc địa với giai cấp công nhân và nhân dân lao động Pháp”. “Sự ra đời của Hội Liên hiệp thuộc địa và báo Người cùng khổ là những sự kiện chính trị quan trọng đối với các dân tộc bị áp bức. Tuy chỉ hoạt động đến năm 1926, nhưng Hội đã góp phần đáng kể vào việc đoàn kết nhân dân các nước thuộc địa trong một mặt trận chung, chống chủ nghĩa đế quốc Pháp, xây dựng tình đoàn kết chiến đấu giữa nhân dân các nước thuộc địa Pháp với giai cấp công nhân và nhân dân lao động Pháp, thức tỉnh nhân dân các thuộc địa vùng lên đấu tranh”. Trong “Báo cáo về Bắc kỳ, Trung kỳ và Nam kỳ” năm 1924, Người đã chủ trương đoàn kết dân tộc phải đoàn kết với nhân dân lao động chính quốc: “Sự nghiệp của người bản xứ gắn mật thiết với sự nghiệp của vô sản toàn thế giới”, và đã phát hiện ra “Chủ nghĩa dân tộc là động lực lớn của đất nước”, “Phát động chủ nghĩa dân tộc bản xứ nhân danh Quốc tế Cộng sản... Giờ đây người ta không thể làm gì được cho người An Nam nếu không dựa trên các động lực vĩ đại, và duy nhất của đời sống xã hội của họ”.

    Trong “Con đường dẫn tôi đến chủ nghĩa Lênin” (1960), Hồ Chí Minh đã viết về ảnh hưởng của bản “Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và dân tộc thuộc địa” của Lênin đối với Người như sau: “Ngồi một mình trong buồng mà tôi nói to lên như đang nói trước quần chúng đông đảo: “Hỡi đồng bào bị đọa đày đau khổ! Đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng chúng ta. Từ đó tôi hoàn toàn tin theo Lênin, tin theo Quốc tế thứ ba”. Người đến với Lênin trước hết là sự hấp dẫn của bản “Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và dân tộc thuộc địa” của Lênin. Bởi ở đó Lênin là người bênh vực cho các dân tộc thuộc địa. Điều này đã được Hồ Chí Minh tâm sự, ngay từ 1920 “dù chưa biết đủ tiếng Pháp để nói hết ý nghĩ của mình, tôi vẫn đập mạnh những lời lẽ chống lại Lênin, chống lại Quốc tế thứ ba. Lý lẽ duy nhất của tôi là: Nếu đồng chí không lên án chủ nghĩa thực dân, nếu đồng chí không bênh vực các dân tộc thuộc địa thì đồng chí làm cái cách mạng gì?”. Năm 1920, trên đất nước Pháp, Nguyễn Ái Quốc đã từ bỏ lập trường dân chủ tư sản để đến với chủ nghĩa Mác-Lênin.

    Phân tích một cách khoa học những thất bại và thành công của Quốc tế I, Quốc tế II và Quốc tế III, trong “Đường kách mệnh” (1927), Hồ Chí Minh kết luận: “Xem những việc ấy thì đủ biết rằng An Nam muốn cách mệnh thành công, thì tất phải nhờ Đệ tam quốc tế”. Trong “Chánh cương vắn tắt của Đảng” (1930), Người chỉ thị: “Vậy tư bản bản xứ không có thế lực gì ta không nên nói cho họ đi về phe đế quốc được, chỉ bọn đại địa chủ mới có thế lực và đứng hẳn về phe đế quốc chủ nghĩa, nên chủ trương làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới chủ nghĩa cộng sản”. Người cũng chỉ thị trong “Sách lược vắn tắt của Đảng” rằng: “Trong khi liên lạc với các giai cấp, phải rất cẩn thận, không khi nào nhượng một chút lợi ích gì của công nông mà đi vào đường thoả hiệp”. Chính Luận cương của Lênin về vấn đề dân tộc và dân tộc thuộc địa mà Nguyễn Ái Quốc đã từ bỏ lập trường dân chủ tư sản, đến với dân chủ vô sản. Đồng thời, vận dụng sáng tạo Luận cương của Lênin, Người  khẳng định con đường duy nhất đúng của cách mạng Việt Nam là đi theo con đường cách mạng vô sản, và đã phát triển thêm Luận cương của Lênin cho phù hợp với điều kiện lịch sử mới bằng chủ nghĩa dân tộc chân chính.

    II. Lênin và Cách mạng Tháng Mười Nga quyết định sự nghiệp cách mạng của Hồ Chí Minh

                1. Khái quát quá trình hình thành và phát triển của tư tưởng Hồ Chí Chí Minh trải qua 5 giai đoạn, thì kể từ 1920 trở đi, bất cứ giai đoạn nào Lênin và Cách mạng Tháng Mười cũng đều ảnh hưởng, tác động sâu sắc đến tư tưởng và sự nghiệp cách mạng của Người

    Việc bước đầu xác định được con đường cứu nước ở giai đoạn 1911 đến 1920, không chỉ phụ thuộc vào tư duy độc lập tự chủ, sáng tạo và đổi mới của Hồ Chí Minh, mà còn là sự tác động rất lớn của Lênin và Cách mạng Tháng Mười đến bước ngoặt cách mạng của Người, bằng chính “Bản sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và dân tộc thuộc địa” của Lênin. Nhờ nó mà Người đến với Lênin và chủ nghĩa Mác-Lênin, và chọn con đường cách mạng Việt Nam theo cách mạng vô sản.

    Việc xác định cách mạng Việt Nam phải trải qua hai giai đoạn Cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân và Cách mạng xã hội chủ nghĩa, ở Hồ Chí Minh tại thời kỳ 1920 đến 1930, không chỉ nhờ chủ nghĩa Lênin Người đến được với chủ nghĩa Mác-Lênin, mà còn Người đã rút ra được bài học kinh nghiệm kinh nghiệm quý báu nhất từ Cách mạng Tháng Mười: “Cách mệnh Nga dạy cho chúng ta rằng muốn cách mệnh thành công thì phải dân chúng (công nông) làm gốc, phải có đảng vững bền, phải bền gan, phải hy sinh, phải thống nhất. Nói tóm lại là phải theo chủ nghĩa Mã Khắc Tư và Lênin”. Từ đó Người sáng lập ra Đảng Cộng sản Việt Nam và bắt đầu lãnh đạo cách mạng Việt Nam tuân thủ 3 nguyên tắc của cách mạng vô sản.

    Từ 1930 đến 1945, đây là giai đoạn Hồ Chí Minh phải vượt qua mọi thử thách, đấu tranh thắng lợi trước chủ nghĩa tả khuynh trong Đảng Cộng sản Việt Nam và trong Quốc tế Cộng sản, để kiên định con đường cách mạng mình đã lựa chọn. Người từng căn dặn Đảng ta, muốn thực sự đảm đương vai trò lãnh đạo cách mạng Việt Nam và làm tròn những nhiệm vụ chính trị của Đảng, thì “Đảng phải đấu tranh không nhân nhượng chống tư tưởng bè phái, và phải tổ chức học tập có hệ thống chủ nghĩa Mác-Lênin để nâng cao trình độ văn hóa và chính trị cho các đảng viên”. Điều này, không những được Người chỉ ra từ 1939 trong “Những chỉ thị mà tôi nhớ và truyền đạt”, mà sau này trong nhiều tác phẩm khác, nhất là các tác phẩm bàn về đạo đức cách mạng, về tư cách đảng viên đều được Người nhấn mạnh.

    Từ 1945 đến 1969, là giai đoạn Hồ Chí Minh trực tiếp lãnh đạo thắng lợi cách mạng Việt Nam theo con đường Người đã chọn. Đây cũng là giai đoạn hoàn thiện tư tưởng của Người về vấn đề dân tộc và vấn đề chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Làm được như vậy chính là nhờ Người đã rất trung thành với Lênin: “Trước mắt các dân tộc phương Đông, Lênin không chỉ là một vị lãnh tụ, một người chỉ huy. Đó cũng là một người thầy có sức hấp dẫn... làm cho quả tim của chúng tôi hướng về Người, không gì ngăn cản nổi... Lênin là hiện thân của tình bác ái”. “Về phần chúng tôi, chính là do cố gắng vận dụng những lời dạy của Lênin, nhưng vận dụng một cách sáng tạo, phù hợp với thực tế Việt Nam ngày nay, mà chúng tôi đã chiến đấu và giành được những thắng lợi to lớn”.

    Về vấn đề dân tộc, khác với Mác, Ăngghen và Lênin, Người đề cao dân tộc nhưng không hạ thấp giai cấp. Hồ Chí Minh tuyên bố: “Độc lập tự do là quyền thiêng liêng bất khả xâm phạm của dân tộc” và đưa ra chân lý sáng ngời của thời đại “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”. Nhưng cách làm của Người là kết hợp nhuần nhuyễn các vấn đề dân tộc với giai cấp, độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa yêu nước truyền thống với chủ nghĩa quốc tế vô sản trong sáng vừa giành độc lập cho dân tộc mình, vừa tôn trọng độc lập của dân tộc bạn. Người đặt cách mạng Việt Nam vào dòng chảy của cách mạng thế giới, và phát triển chủ nghĩa Mác-Lênin với nội dung giương cao đồng thời hai ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.

    Về vấn đề chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, tiếp thu và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Lênin vào Việt Nam, Hồ Chí Minh đã có nhiều định nghĩa khác nhau về CNXH ở Việt Nam. Thông qua các định nghĩa ấy mà chỉ ra các đặc trưng bản chất của CNXH ở Việt Nam, đồng thời xác định các mục tiêu và động lực của CNXH ở Việt Nam. Cũng như Mác, Ăngghen và Lênin, Hồ Chí Minh không định sẵn mô hình CNXH và con đường quá độ lên CNXH buộc dân tộc phải tuân thủ. Hồ Chí Minh tuyên bố: “Ta không thể giống Liên Xô... ta có thể đi con đường khác để tiến lên chủ nghĩa xã hội”. Đưa Việt Nam lên CNXH từ một nước nông nghiệp lạc hậu, thuộc địa, phong kiến lâu đời, và quan niệm của Hồ Chí Minh về chia nhỏ thời kỳ quá độ lên CNXH thành nhiều bước đi là sự phát triển chủ nghĩa Mác-Lênin của Người trong điều kiện lịch sử mới.

    2. Chủ nghĩa Mác-Lênin là cội nguồn cốt lõi của tư tưởng Hồ Chí Minh. Trong đó, Lênin và Cách mạng Tháng Mười là bộ phận ảnh hưởng sâu sắc nhất đến cuộc đời và sự nghiệp cách mạng của Người

    Khẳng định chủ nghĩa Mác-Lênin là cội nguồn cốt lõi của tư tưởng Hồ Chí Minh, bởi lẽ: Từ chủ nghĩa yêu nước truyền thống của Việt Nam, lăn lộn trong phong trào công nhân quốc tế, Người đến với chủ nghĩa Mác-Lênin trở thành người cộng sản Việt Nam đầu tiên. Người tham gia sáng lập ra Đảng Cộng sản Pháp, là người đầu tiên trực tiếp truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin một cách có tổ chức và có hệ thống vào Việt Nam, là người sáng lập ra Đảng Cộng sản Việt Nam. Người là một trong những lãnh tụ lỗi lạc của phong trào công nhân và phong trào cộng sản quốc tế. Người trực tiếp lãnh đạo, vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác-Lênin để đưa cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác theo con đường cách mạng vô sản.

    Trong tiến trình cách mạng ấy, có thể thấy Lênin và Cách mạng Tháng Mười là bộ phận ảnh hưởng sâu sắc nhất đến cuộc đời và sự nghiệp cách mạng của Hồ Chí Minh:

    Các tác phẩm tiêu biểu mà Hồ Chí Minh chuyên viết về Lênin và Cách mạng Tháng Mười suốt từ 1924 đến 1969 là: “Lênin và các dân tộc thuộc địa” (1/1924); “Cách mạng Nga và các dân tộc thuộc địa” (1924); “Tham luận về vấn đề dân tộc và dân tộc thuộc địa tại Đại hội Quốc tế lần thứ V của Quốc tế Cộng sản” (1924); “Lênin và các dân tộc phương Đông” (7/1924); “Lênin và các dân tộc thuộc địa”  (1925); “Lênin và phương Đông” 1/1926; “Trường đại học phương Đông” 6/1927; “Sự nghiệp vĩ đại của Lênin” (1/ 1952); “Chủ nghĩa Lênin và công cuộc giải phóng các dân tộc bị áp bức” (1/1955); “Sức mạnh hòa bình của Liên Xô” (5/1956); “Liên Xô vĩ đại” (10/1957); “Cách mạng Tháng Mười và sự nghiệp giải phóng các dân tộc phương Đông” (11/1957); “Chúc mừng ngày kỷ niệm Cách mạng Tháng Mười vĩ đại” (11/1958); “Vui vẻ kỷ niệm Cách mạng Tháng Mười vĩ đại” (11/1959); “Con đường dẫn tôi đến chủ nghĩa Lênin”  (4/1960); “Lênin và thi đua xã hội chủ nghĩa” (4/1960); “Sức mạnh vô địch” (1960); “Chào mừng kỷ niệm lần thứ 44 Cách mạng Tháng Mười vĩ đại” (11/1961); “Lênin người thầy vĩ đại của cách mạng Việt Nam” (4/1962); “Chủ nghĩa Lênin vĩ đại muôn năm” (4/1962); “45 năm đấu tranh anh dũng, 45 năm thắng lợi vẻ vang” (11/1962); “Nhân ngày kỷ niệm Cách mạng Tháng Mười vĩ đại” (11/1963); “Cách mạng Tháng Mười vĩ đại mở ra con đường giải phóng cho các dân tộc” (11/1967); “Chủ nghĩa Lênin và cách mạng Việt Nam” (7/1969).

    Trong các tác phẩm ấy, Hồ Chí Minh không chỉ bày tỏ tình cảm kính trọng, ngưỡng mộ của Người đối với Lênin và Cách mạng Tháng Mười, mà Người còn luôn chỉ ra Lênin và Cách mạng Tháng Mười là người thầy vĩ đại, là ngọn đèn pha soi sáng con đường cách mạng Việt Nam và thế giới: “Những người có tâm huyết làm sao có thể cầm được nước mắt? Những người bị áp bức,.. há lại không nên nhận lấy nhiệm vụ mà Lênin đã để lại và tiến lên hay sao? Tiến lên!”; “Trong con mắt của các dân tộc thuộc địa, trong lịch sử cuộc đời đau khổ và bị mất quyền của các dân tộc thuộc địa, Lênin là người sáng tạo ra cuộc đời mới, là ngọn hải đăng chỉ dẫn con đường đi tới giải phóng cho toàn thể nhân loại bị áp bức”; “Đối với tất cả các dân tộc bị áp bức và bị nô dịch, Lênin đã thể hiện một bước ngoặt trong lịch sử cuộc đời đau khổ và bị mất quyền của họ, là tượng trưng cho một tương lai mới, xán lạn”.

    “Từ khi Đảng Cộng sản Đông Dương thành lập, nhân dân Việt Nam ta luôn hướng về Liên Xô, đất nước của Lênin vĩ đại và coi Liên Xô là Tổ quốc của cách mạng, Tổ quốc thứ hai của mình”; “Giống như mặt trời chói lọi, Cách mạng Tháng Mười chiếu sáng khắp năm châu, thức tỉnh hành triệu hàng triệu người bị áp bức, bóc lột trên trái đất... Đi theo con đường do Lênin vĩ đại đã vạch ra, con đường của Cách mạng Tháng Mười, nhân dân Việt Nam đã giành được thắng lợi rất to lớn”.

    Đó là những khẳng định của Hồ Chí Minh về ảnh hưởng của Lênin và Cách mạng Tháng Mười đối với cách mạng Việt Nam và cách mạng thế giới. Điều đó đồng thời nói lên sự ảnh hưởng sâu sắc của Lênin và Cách mạng Tháng Mười đối với cuộc đời và sự nghiệp cách mạng của Người. Trung thành với Lênin, vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác-Lênin vào Việt Nam, Hồ Chí Minh đã đưa cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, từng bước xây dựng nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa theo cách của Người. Tư tưởng Hồ Chí Minh là chủ nghĩa Mác-Lênin của Việt Nam. Từ Đại hội VII đến nay, Tư tưởng Hồ Chí Minh và chủ nghĩa Mác-Lênin là 2 bộ phận cấu thành quan trọng nhất của hệ tư tưởng thống trị của Việt Nam. Nhờ đó, công cuộc đổi mới của Việt Nam đã và đang làm cho nhân loại đi từ ngưỡng mộ này đến khâm phục khác ngày càng lớn hơn đối với dân tộc Việt Nam.


    Số lượt thích: 0 người
     
    Gửi ý kiến